Vấn đề đặt ra là nước ta chưa có một khung pháp lý rõ ràng, mạch lạc về dịch vụ công, cũng như hàng hóa công. Chính vì vậy, việc các cây xăng có quyền đóng cửa hay không vẫn là một câu hỏi còn bị bỏ ngỏ. Theo cách phân tích trên, vấn đề pháp lý chính là những điều, những câu hỏi vấn đề trọng tâm cần được tranh luận hoặc cần được giải quyết theo hình thức pháp luật của vấn đề. Vấn đề nào mà không được tiếp cận, giải quyết theo hình thức pháp luật thì không được gọi là vấn đề pháp lý. Để giải quyết được vấn đề pháp lý, cần phải xác minh được pháp hcma.vn - Chiều 12/9/2022, Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị nghiên cứu, học tập nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam". GS,TS Nguyễn Xuân Thuê trọ là vấn đề được nhiều người quan tâm, đặc biệt là Sinh viên và Người lao động vì công việc, học hành mà sống xa nhà, mong muốn tìm được một nơi ở thích hợp, an ninh, sạch sẽ đồng thời phải thuận tiện cho việc đến trường, làm việc là một điều cần thiết. Sinh viên, người lao động Vấn đề pháp lý là gì. Vấn đề pháp lý hay còn được gọi là câu hỏi pháp lý tức là các vấn đề trọng tâm cần tranh luận hoặc cần giải quyết theo hình thức pháp luật của một vấn đề. …Tuy nhiên lại có những vấn đề pháp lý cần có thời gian thu thập điều tra, tổng hợp bằng chứng thì mọi việc mới Vay Tiền Trả Góp Theo Tháng Chỉ Cần Cmnd. Hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp đòi hỏi một quá trình lao động trí óc. Hiện nay, có nhiều hoạt động tư vấn pháp luật khác nhau, tư vấn pháp luật trong lĩnh vực đất đai là một hoạt động phổ biến và rất đa dạng, người tư vấn cần có các kĩ năng nhất định và kiến thức chuyên sâu để giúp khách hàng bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình. Tư vấn pháp luật trong lĩnh vực đất đai là việc người tư vấn giải đáp pháp luật về các quan hệ mà người yêu cầu tư vấn yêu cầu trong lĩnh vực dân sự và đưa ra ý kiến, cách thức giải quyết cho một tình huống cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi cho người được tư vấn và thực hiện các dịch vụ pháp lí. Với bài viết sau đây Luật Quang Huy sẽ tiến hành giải đáp vấn đề Các vấn đề pháp lý trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất như sauDanh mục tài liệu tham khảoLuật đất đai năm luật Dân sự năm định Số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết luật đất đai năm thuế thu nhập cá nhân năm công chứng năm đang xem Vấn đề pháp lý là gì Anh chị với tư cách là chuyên gia tư vấn về hợp đồng làm việc tại công ty luật Tín Phát, hãyHãy xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt cần làm rõ trong giao dịch chuyển nhượng giữa ông Hùng và ông Tuấn để làm cơ sở cho việc soạn thảo Dự thảo hợp đồng chuyển soạn thảo Dự thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hùng và ông dung1 Xác định những vấn đề pháp lý mấu chốt cần làm rõ trong giao dịch chuyển nhượng giữa ông Hùng và ông TuấnXác định những vấn đề pháp lý mấu chốt cần làm rõ trong giao dịch chuyển nhượng giữa ông Hùng và ông TuấnNhững vấn đề pháp lý mấu chốt trong giao dịch chuyển nhượng giữa ông Hùng và ông Tuấn Thực chất của việc xác định vấn đề pháp lý của vụ việc là nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và thấu đáo hồ sơ của khách hàng và tìm ra những vấn đề mấu chốt cần giải quyết. Quá trình tìm ra vấn đề pháp lý là quá trình người tư vấn đặt một chuỗi các câu hỏi pháp lý có tính liên kết với nhau, câu hỏi pháp lý này sẽ làm nảy sinh câu hỏi pháp lý kế tiếp. Khi xác định vấn đề pháp lý, nên xuất phát từ các câu hỏi mà khách hàng muốn người tư vấn giải đáp. Vấn đề pháp lý của hồ sơ thường là câu hỏi pháp lý mà câu trả lời sẽ giúp giải đáp được nguyện vọng của khách hàng. Từ quá trình tiếp xúc khánh hàng và quá trình nghiên cứu hồ sơ tài liệu, ta nhận thấy rằng vấn đề pháp lý mấu chốt của vụ việc này là việc “Đảm bảo tính hợp pháp và phòng ngừa rủi ro trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hùng và ông Tuấn”. Vậy để giải quyết vấn đề pháp lý trên cần phải trả lời những câu hỏi pháp lý sau Thứ nhất, về tư cách chủ thể Ông Tuấn bên chuyển nhượng là cá nhân chuyển nhượng? Hộ gia đình chuyển nhượng? Hay là tài sản chung của vợ chồng?Nếu là cá nhân thì ông có đủ năng lực hành vi dân sự hay không?Nếu là hộ gia đình thì có bao nhiêu thành viên trong hộ gia đình? Có bao nhiêu thành viên đã thành niên? Có bao nhiêu thành viên chưa thành niên?Nếu là tài sản của vợ chồng thì đó là tài sản chung hay tài sản riêng? Thứ hai, hình thức của hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng và phải đăng ký vào sổ địa chính. Thứ ba, đối tượng của hợp đồngđối tượng là quyền sử dụng đất, cần làm rõHiện trạng sử dụng đất? Nguồn gốc đất ở đâu? Loại đất? mục đích sử dụng đất? thời gian sử dụng đất? diện tích đất?Tình trạng pháp lý của đất? có tranh chấp không? Được cấp GCNQSDĐ chưa? Có giấy tờ gì liên quan đến đất không? Địa chỉ đất? thửa đất ở vị trí nào? ở bản đồ nào?Có tài sản gắn liền với đất không? Nếu có thì tài sản đó là gì? nhà, chương trình xây dựng?, diện tích xây dựng trên đất? đã đăng ký quyền sở hữu chưa? Nếu chưa thì có giấy phép xây dựng không?.Quyền sử dụng đất có bị kê biên để đảm bảo thi hành án không? Thứ tư, giá chuyển nhượng và phương thức thanh toán Giá 5 tỷ đồng. Phương thức thanh toán hình thức chuyển khoản hay thanh toán trực tiếp? Thanh toán một lần hay nhiều lần? Giao các chứng từ sau khi sang tên trước bạ. Thứ năm, quyền và nghĩa vụ các bên Đối với ông TuấnNghĩa vụ giao đầy đủ các giấy tờ?; giao đúng thời hạn?; Bàn giao đất trên thực địa đúng diện tích?, đúng hiện trạng?, đúng thời gian?.Quyền nhận tiền đúng số tiền, thời gian, phương thức thanh toán theo thỏa thuận. Đối với ông HùngNghĩa vụ giao tiền đúng số tiền, thời gian, phương thức thanh toán theo thỏa thuận?.Quyền nhận đầy đủ các giấy tờ về đất đúng thời gian. Nhận đất trên thực địa đúng diện tích, hiện trạng, đúng thời hạn. Thứ sáu trách nhiệm do vi phạm hợp đồngNếu bên nào không thực hiện đúng các điều khoản thỏa thuận sẽ phải chịu trách nhiệm gì?Căn cứ xác định vi phạm hợp đồng?Hậu quả pháp lý của việc vi phạm hợp đồng? Thứ bảy, phạt vi phạm hợp đồngCăn cứ phạt vi phạm hợp đồng?Mức phạt vi phạm hợp đồng?Phương thức phạt vi phạm hợp đồng? Thứ tám, thời hạn có hiệu lực của hợp đồng Thời điểm do các bên thỏa thuận? Thời điểm hợp đồng được công chứng? Thời điểm đăng ký vào sổ địa chính?Soạn thảo Dự thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hùng và ông Tuấn Kĩ năng soạn thảo hợp đồng Yêu cầu khi soạn thảo hợp đồng Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng phải đảm bảo sự chính xác không sử dụng từ lóng, từ nhiều nghĩa để gây ra những nhầm lẫn đáng kể, cụ thể, rõ ràng, đầy đủ ý nghĩa. Đảm bảo được đúng các thông tin, các yêu cầu của khách hàng và phù hợp với quy định của pháp luật các thông tin và yêu cầu của khách hàng có thể được thể hiện trực tiếp bằng miệng khi khách hàng đến gặp người tư vấn, có thể được thể hiện rõ trong phiếu yêu cầu của khách hàng theo mẫu đã được soạn sẵn của các trung tâm tư vấn. Phải tiên liệu được những rủi ro có thể phát sinh từ hợp đồng cho khách hàng rủi ro này có thể phát sinh từ nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan. Người tư vấn phải dự đoán trước để đảm bảo quyền và lợi ích của khách hàng không bị xâm phạm. Soạn thảo Dự thảo hợp đồngCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc—————…………., ngày ….. tháng ….. năm……..HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤTSố ……../HĐCăn cứ Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành;Căn cứ Luật thuế thu nhập cá nhân ngày 21 tháng 11 năm 2007;Căn cứ Luật Kinh doanh bất động sản ngày 25 tháng 11 năm 2014;Căn cứ Nghị định số ……../2015/NĐ-CP ngày …. tháng …. năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản;Các căn cứ pháp lý bên chúng tôi gồmBÊN CHUYỂN NHƯỢNG– Ông/Bà………………………………………………………………………………………………………….– Sinh ngày ………………./………………../………………………………………………………– Giấy chứng minh nhân dân/Hộ chiếu số …………….Cấp ngày …../ ……./………Tại …………………………………………………………………………………………………………………..– Quốc tịch đối với người nước ngoài………………………………………………………………..– Số tài khoản nếu có ………………. Tại ngân hàng …………………………………………– Mã số thuế……………………………………………………………………………………………………..BÊN NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG– Ông/Bà………………………………………………………………………………………………………..– Sinh ngày ………………./………………../………………………………………………………– Giấy chứng minh nhân dân/Hộ chiếu số …………….Cấp ngày …../ ……./……….Tại …………………………………………………………………………………………………………………..– Quốc tịch đối với người nước ngoài………………………………………………………………..– Số điện thoại…………………………………………………………………………………………………..Trường hợp bên nhận chuyển nhượng là cá nhân thì chỉ ghi thông tin về cá nhân. Trường hợp bên nhận chuyển nhượng là nhiều người thì ghi thông tin cụ thể của từng cá nhân nhận chuyển nhượng. Trường hợp bên nhận chuyển nhượng là vợ và chồng hoặc Quyền sử dụng đất là tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng theo quy định pháp luật thì ghi thông tin của cả vợ và chồng. Trường hợp bên nhận chuyển nhượng là tổ chức thì ghi thông tin của tổ chức.Các vấn đề pháp lý trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đấtHai bên đồng ý thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo các thỏa thuận sau đâyĐiều 1. Thông tin về thửa đất chuyển nhượngQuyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng đối với thửa đất theo……………………….………………………………………………………………………………………………………………………..Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ….Đặc điểm cụ thể của thửa đất như sau– Tờ bản đồ số…………………………………………………………………………………………………..– Địa chỉ thửa đất………………………………………………………………………………………………– Diện tích ……………./………m2 Bằng chữ…………………………………………………. – Hình thức sử dụng+ Sử dụng riêng ………………. m2+ Sử dụng chung ……………… m2– Mục đích sử dụng……………………………………………………………………………………………– Thời hạn sử dụng…………………………………………………………………………………………….– Nguồn gốc sử dụng…………………………………………………………………………………………Những hạn chế về quyền sử dụng đất nếu có……………………………………………………..Các chỉ tiêu về xây dựng của thửa đất như sau– Mật độ xây dựng…………………………………………………………………………………………….– Số tầng cao của công trình xây dựng…………………………………………………………………– Chiều cao tối đa của công trình xây dựng…………………………………………………………..– Các chỉ tiêu khác theo quy hoạch được duyệt……………………………………………………..Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đấta Đất đã có hạ tầng kỹ thuật nếu là đất trong dự án đã được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật để chuyển nhượng;b Đặc điểm nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất …………….nếu có.Điều 2. Giá chuyển nhượngGiá chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này là …………..đồng bằng chữ đồng Việt Nam.Có thể ghi chi tiết bao gồm– Giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất………………………………………………………….– Giá trị chuyển nhượng hạ tầng kỹ thuật…………………………………………………………….– Giá trị bán/chuyển nhượng nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất hoặc tài sản khác gắn liền với đất – Tiền thuế VAT………………………………………………………………………………………………..Điều 3. Phương thức thanh toánPhương thức thanh toán……………………………………………………………………Các thỏa thuận khác……………………………………………………………………………Điều 4. Thời hạn thanh toánThanh toán 1 lần hoặc nhiều lần do các bên thỏa 5. Bàn giao đất và đăng ký quyền sử dụng đấtBàn giao quyền sử dụng đấta Việc bàn giao quyền sử dụng đất được các bên lập thành biên bản;b Bên chuyển nhượng có trách nhiệm bàn giao cho Bên nhận chuyển nhượng các giấy tờ pháp lý về quyền sử dụng đất kèm theo quyền sử dụng đất– Bản gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;– Bản sao các giấy tờ pháp lý về đất đai……………………………………………………………….– Các giấy tờ khác theo thỏa thuận………………………………………………………………………c Bàn giao trên thực địa……………………………………………………………………………………Đối với trường hợp chuyển nhượng đất trong dự án khu đô thị mới, dự án phát triển nhà ở, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và các dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật để chuyển nhượng đất có hạ tầng Bên chuyển nhượng có trách nhiệm bàn giao cho Bên nhận chuyển nhượng các điểm đấu nối hạ tầng kỹ thuật về cấp điện, cấp và thoátnước……..Đăng ký quyền sử dụng đấta Bên chuyển nhượng có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật đểđăng ký quyền sử dụng đất cho Bên nhận chuyển nhượng tại cơ quan có thẩm quyềntheo quy định của pháp luật nếu là chuyển nhượng đất trong dự án;b Trong thời hạn ………. ngày kể từ ngày hợp đồng này được ký kết, Bên chuyển nhượng có trách nhiệm thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;c Bên nhận chuyển nhượng có trách nhiệm phối hợp với Bên chuyển nhượng thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;Thời điểm bàn giao đất trên thực địa…………………………………………………………………Các thỏa thuận khác……………………………………………………………………………………….Các bên có thể thỏa thuận để Bên nhận chuyển nhượng tự thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất, trong trường hợp này, Bên chuyển nhượng phải bàn giao cho Bên nhận chuyển nhượng các giấy tờ cần thiết để làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất.Điều 6. Trách nhiệm nộp thuế, lệ phíVề thuế do Bên ………………………….. nộpVề phí do Bên …………………………….. nộpCác thỏa thuận khác……………………………………………………………………………………….Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của các bênQuyền và nghĩa vụ của bên chuyển nhượngQuyền của bên chuyển nhượng theo Điều 38 Luật Kinh doanh bất động sảna Yêu cầu bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thanh toán tiền theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng;b Yêu cầu bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhận đất theo đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng;c Yêu cầu bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại do lỗi của bên nhận chuyển nhượng gây ra;d Không bàn giao đất khi chưa nhận đủ tiền, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;đ Các quyền khác…………………………………………………………………………………………….Nghĩa vụ của bên chuyển nhượng theo Điều 39 Luật Kinh doanh bất động sảna Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về quyền sử dụng đất và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp;b Chuyển giao đất cho bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đủ diện tích, đúng vị trí và tình trạng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng;c Làm thủ tục đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bên nhận chuyển nhượng, trừ trường hợp bên nhận chuyển nhượng có văn bản đề nghị tự làm thủ tục cấp giấy chứng nhận;d Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra;đ Thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật;e Các nghĩa vụ khác…………………………………………………………………………………………Quyền và nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượngQuyền của bên nhận chuyển nhượng theo Điều 40 Luật Kinh doanh bất động sảna Yêu cầu bên chuyển nhượng cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về quyền sử dụng đất chuyển nhượng;b Yêu cầu bên chuyển nhượng làm thủ tục và giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;c Yêu cầu bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất giao đất đủ diện tích, đúng vị trí và tình trạng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng;d Yêu cầu bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất bồi thường thiệt hại do lỗi của bên chuyển nhượng gây ra;đ Có quyền sử dụng đất kể từ thời điểm nhận bàn giao đất từ bên chuyển nhượng;e Các quyền khác…………………………………………………………………………………………….Nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng theo Điều 41 Luật Kinh doanh bất động sảna Thanh toán tiền cho bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thời hạn và phương thức thỏa thuận trong hợp đồng;b Bảo đảm quyền của bên thứ ba đối với đất chuyển nhượng;c Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra;d Xây dựng nhà, công trình xây dựng tuân thủ đúng các quy định pháp luật và quy hoạch được duyệt;đ Thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước theo quy định của pháp luật;e Các nghĩa vụ khác………………………………………………………………………………………….Điều 8. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồngBên chuyển nhượng phải chịu trách nhiệm khi vi phạm các quy định sau…………….Bên nhận chuyển nhượng phải chịu trách nhiệm khi vi phạm các quy định sau…….Điều 9. Phạt vi phạm hợp đồngPhạt bên chuyển nhượng khi vi phạm hợp đồng theo Khoản 1 Điều 8 của hợp đồng này như sauPhạt bên nhận chuyển nhượng khi vi phạm hợp đồng theo Khoản 2 Điều 8 của hợp đồng này như sau…………………………………………………………………………………………….Điều 10. Các trường hợp chấm dứt hợp đồngHợp đồng này sẽ chấm dứt trong các trường hợp sau– ………………………………………………………………………………………………………………………– ………………………………………………………………………………………………………………………Các trường hợp hủy bỏ hợp đồng– ………………………………………………………………………………………………………………………– ………………………………………………………………………………………………………………………Xử lý khi chấm dứt và hủy bỏ hợp 11. Giải quyết tranh chấpTrong quá trình thực hiện Hợp đồng này, nếu phát sinh tranh chấp, các bên cùng nhau thương lượng giải quyết trên nguyên tắc tôn trọng quyền lợi của nhau; trong trường hợp không giải quyết được thì thống nhất chọn Tòa án hoặc trọng tài giải quyết theo quy định của pháp 12. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồngHợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ………… hoặc có hiệu lực kể từ ngày được công chứng chứng nhận hoặc được UBND chứng thực đối với trường hợp pháp luật quy định phải công chứng hoặc chứng thực.Hợp đồng này được lập thành ….. bản và có giá trị pháp lý như nhau, mỗi bên giữ ….. bản, …. bản lưu tại cơ quan thuế,…. và …… bản lưu tại cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với nhà và công trình./.Xem thêm Vì Sao Cần Sử Dụng Hợp Lí Tài Nguyên Thiên Nhiên Là Gì ? Vai Trò Nguồn Tài Nguyên Thiên NhiênBÊN CHUYỂN NHƯỢNGKý, ghi rõ họ tên, chức vụ người ký và đóng dấuBÊN NHẬN CHUYỂN NHƯỢNGKý, ghi rõ họ tên, nếu là tổ chức thì đóng dấu và ghi chức vụ người ký Trên đây là phần giải đáp thắc mắc của chúng tôi về vấn đề Các vấn đề pháp lý trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất . Nếu trong quá trình giải quyết còn gì thắc mắc bạn có thể liên hệ chúng tôi qua tổng đài tư vấn pháp luật qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được giải đáp. Trong những năm gần đây, tranh chấp về hợp đồng tín dụng được Toà án thụ lý giải quyết ngày càng nhiều. Chủ đề “Các vấn đề pháp lý cần lưu ý liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản bảo đảm tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích nâng cao chất lượng xét xử, đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án đúng thời hạn cũng như nâng cao sự phối hợp giữa hệ thống Tòa án nhân dân với các tổ chức tín dụng nhằm góp phần giữ vững sự ổn định và phát triển kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngày 15/8/2017 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có hiệu lực đến ngày 28/02/2021, Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã thụ lý vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng liên quan việc xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, đã giải quyết vụ việc, còn vụ việc chưa giải quyết, tỷ lệ giải quyết đạt 80,25%. Riêng tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ, giải quyết là vụ, tỷ lệ giải quyết đạt 60%. Nhìn chung, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nghiêm túc, thống nhất, đúng pháp luật, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, đồng thời đảm bảo công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử vẫn còn những khó khăn, vướng mắc như nhiều vụ án có thời gian giải quyết kéo dài vì tính chất phức tạp, nhiều đương sự tham gia hoặc đương sự ở nước ngoài phải ủy thác tư pháp, hoặc đương sự không hợp tác với Tòa án, vẫn còn một số vụ án bị hủy sửa liên quan đến vấn đề giao dịch bảo đảm… hoặc có những hồ sơ tín dụng bảo đảm ngay từ đầu không được chặt chẽ thậm chí là không thực hiện đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm, vẫn cón một số hồ sơ đơn khởi kiện chưa đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc ủy quyền chưa hợp lệ, người vay hoặc bảo lãnh đã bỏ địa phương đi dâu không rõ… 1. Những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết tranh chấp Việc thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn theo quy định của Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 Thông thường, các tổ chức tín dụng khởi kiện yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ, nhưng nguyên đơn không cung cấp được họ tên của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người thực tế đang quản lý, sử dụng tài sản đảm bảo này. Các tổ chức tín dụng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bàn giao tài sản nhưng bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không hợp tác và không chấp nhận thực hiện nghĩa vụ bàn giao tài sản. Khi đó, Tòa án phải chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Như vậy, thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài, ảnh hưởng đến thời gian thực hiện lạicác thủ tục tố tụng. Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp Trên thực tế, rất nhiều vụ án hợp đồng tín dụng có tranh chấp về thẩm quyền, nhiều vụ án được chuyển nhiều lần từ Tòa án quận, huyện này sang Tòa án quận, huyện khác, từ Tòa án quận, huyện đến Tòa án thành phố. Một trong những nguyên nhân đó là địa chỉ bị đơn thay đổi so với địa chỉ ghi trên hợp đồng dẫn đến các Thẩm phán lúng túng khi xác định thẩm quyền cũng như khó khăn trong việc tống đạt. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng Liên quan đến vấn đề xử lý tài sản thế chấp là tòa nhà thương mại, chung cư hoặc bất động sản khác có nhiều người đang cư trú, theo quy định cần phải đưa những cư dân đang sinh sống trong chung cư, những tổ chức, cá nhân đang thuê để kinh doanh, mua bán hoặc đăng ký trụ sở… tại tòa nhà vào tham gia tố tụng với tưcách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên việc đưa những trường hợp nêu trên vào tham gia tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc dẫn đến vụ án giải quyết mất nhiều thời gian và chậm được giải quyết theo quy định. Bên cạnhđó, một số ban quản lý chung cư và tòa nhà không hợp tác nên rất khó để liên hệvới tất cả người liên quan để triệu tập tham gia tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Trong những vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng mà các tổ chức tín dụng đã bán các khoản nợ xấu cho các công ty mua bán nợ xấu thì trường hợp này quyền, nghĩa vụ kế thừa của họ từ những hợp đồng tín dụng như thế nào, việc xác định tư cách tham gia tố tụng cụ thể ra sao, Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chỉ quy định việc kế thừa của Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản VAMC, còn các ông ty mua bán nợ khác chưa được pháp luật điều chỉnh cụ thể. Tính chất phức tạp của vụ án Phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụngliên quan đến tài sản bảo đảm đều là các tranh chấp phức tạp, quá trình thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài. Có nhiều vụ án ban đầu Tòa án chỉ thụ lý tranh chấp hợp đồng tín dụng nhưng sau đó phải thụ lý nhiều quan hệ pháp luật khác vì chính những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có yêu cầu độc lập, tranh chấp quyền sở hữu, quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp trong vụ án. Hoặc trong quá trình giải quyết, Thẩm phán phát hiện Tòa án khác đang thụ lý tranh chấp quyền sở hữu nhà, tranh chấp quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp trong hợp đồng tín dụng dẫn đến phải nhập vụ án hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án chờ kết quả giải quyết từ những vụ án này. Trường hợp bị đơn là pháp nhân không còn hoạt động, Tòa án tiến hành xác minh, được biết người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có hộ khẩu thường trú ở tỉnh, nhưng khi xác minh địa chỉ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thì không có thực tế cư trú tại địa phương. Do đó, việc quy định tống đạt cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân gặp nhiều khó khăn và làm cho vụ án giải quyết không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Có trường hợp, hiện tại pháp nhân không còn thực tế hoạt động, người đại diện của pháp nhân chết nhưng không có người đại diện theo pháp luật khác nhưng vì buộc phải tống đạt cho người đại diện theo pháp luật mà vụ án phải tạm đình chỉ chờ có người đại diện của pháp nhân. Một số hồ sơ tín dụng có nhiều đương sự cư trú tại nhiều tỉnh thành khác nhau. Đương sự ở nước ngoài, có địa chỉ không rõ dẫn đến tống đạt, ủy thác tư pháp gặp nhiều khó khăn, trong trường hợp không có cơ sở để xác định họ không biết được việc Tòa án niêm yết tống đạt thì theo quy định pháp luật Tòa án phải tiến hành thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuy nhiên, một số tổ chức tín dụng từ chối không nộp chi phí phí ủy thác tư pháp, chi phí đăng báo dẫn đến việc giải quyết vụ án gặp khó khăn. Khó khăn trong việc xác minh hiện trạng tài sản, thu thập chứng cứ Hiện nay, Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hố Chí Minh gặp nhiều khó khăn trong việc khi tiến hành thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ đối với bất động sản, khi thế chấp tài sản ngân hàng chỉ thế nhận thế chấp và xem xét tài sản dựa trên giấy tờ hiện có, không xem xét thực tế dẫn đến quá trình thẩm định tại chỗ phần diện tích thực tế có chênh lệch hoặc hiện trạng thực tế tài sản tại thời điểm giải quyết tranh chấp khác nhiều so với hiện trạng tài sản khi thế chấp trên giấy tờ. Nhiều trường hợp, Tòa án đã áp dụng hết tất cả các biện pháp theo quy định pháp luật nhưng phía bị đơn hoặc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không hợp tác không cung cấp bản vẽ hiện trạng mới, không hợp tác để đo vẽ, không cho thực hiện xem xét thẩm định tại chỗ, không cho Hội đồng định giá vàođịnh giá… gây khó khăn rất nhiều cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Đối với tài sản ngân hàng đem bán đấu giá, người mua được tài sản đấu giá vẫn không thực hiện được thủ tục đăng ký cấp Giấy chứng nhận vì người có tài sản khởi kiện liên quan đến tài sản đấu giá, hoặc tranh chấp khác liên quan đến tài sản đem đấu giá. Dẫn đến phát sinh thêm nhiều vụ tranh chấp liên quan đến Nghị quyết42, vì vậy vẫn không thể nào giải quyết dứt điểm nợ xấu của Ngân hàng. Tài sản thế chấp thực tế đã được chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cho bên thứ ba; nhiều trường hợp tài sản thế chấp trở thành đối tượng tranh chấp trong một vụ án khác như tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, dẫn đến việc giải quyết vụ án trở nên phức tạp, Tòa án phải ủy thác thu thập chứng cứ đến các tỉnh thành nơi có bất động sản tọa lạc, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Tài sản thế chấp là tài sản đảm bảo cho nhiều khoản vay của bị đơn tại nhiều hợp đồng khác nhau; đồng thời, phần nhỏ giá trị của nhiều tài sản thế chấp lại đảm bảo cho khoản vay của một hợp đồng tín dụng nhưng không xác định được tỷ lệ phần trăm của nghĩa vụ mà một tài sản đó bảo đảm cho khoản vay này nên khó khăn trong việc giải quyết để người có tài sản bảo đảm là bên thứ ba thực hiện trách nhiệm bảo đảm cho khoản vay của bên được bảo đảm Đối với tài sản thế chấp là động sản, ví dụ như xe ô tô, xe gắn máy sau khi thế chấp cho ngân hàng đã đem chuyển nhượng bất hợp pháp cho người khác dẫn đến khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án và thi hành án. Về thời hạn giải quyết vụ án Tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định thời hạn giải quyết từ 02 đến 04 tháng, gia hạn không quá 2 tháng. Những vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp tín dụng thông thường rất phức tạp, giá trị hợp đồng vay lớn, tài sản bảo đảm khoản vay và người tham gia tố tụng phức tạp nhưng thời hạn giải quyết tối đa chỉ 3 tháng là quá ngắn. Rất ít trường hợp tranh chấp hợp đồng tín dụng giải quyết đúng trong thời hạn quy định nêu trên. Sự không minh bạch, không trung thực, che giấu khiếm khuyết về tài sản thế chấp của người có tài sản thế chấp” Một số trường hợp, khi thế chấp tài sản, chủ sở hửu không thông báo cho bên nhận thế chấp những thông tin đầy đủ, những hạn chế của tài sản thế chấp chẳng hạn như tài sản có tranh chấp, hiện trạng tài sản khác với giấy chứng nhận… dẫn đến việc là khi tổ chức tín dụng khởi kiện vụ án tín dụng thì lại phát sinh các tranh chấp về quyền sở hửu, về hợp đồng thuê nhà, lúc này Tòa án buộc phải nhập các vụán giải quyết, mất thêm nhiều thời gian tố tụng. Hoặc, tài sản trong hợp đồng nhận thế chấp không đúng với thực tế tài sản như diện tích đất thực tế không đúng, tài sản không đủ theo hợp đồng, không nhận thế chấp tài sản gắn liền trên đất, trên đất có tài sản là nhà ở của người khác, hoặc khi thế chấp tài sản xong, chủ tài sản tiến hành sửa chữa, xây dựng mới dẫn đến khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án và thi hành án. Việc thực thi pháp luật của cán bộ tín dụng, Thẩm phán, Thư ký Tòa án Trong thực tiễn giải quyết những vụ án tín dụng, chúng tôi nhận thấy một số hợp đồng thế chấp tài sản còn chưa tuân thủ quy định pháp luật về thế chấp, đăng ký giao dịch đảm bảo, cụ thể là hợp đồng nhận thế chấp là quyền sử dụng đất trả tiền thuê đất hàng năm, việc ký thế chấp thiếu đồng sở hửu, tài sản thế chấp được định giá cao rất cao so với giá thị trường, biên bản thẩm định tài sản không đúng thực tế… dẫn đến nhiều rủi ro của tổ chức tín dụng nếu có xảy ra tranh chấp Thậmchí có nhiều tổ chức tín dụng khi khởi kiện vẫn đưa ra yêu cầu tính lãi quá hạn, lãi phạt không đúng quy định của Nghi quyết 01/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao quy định về lãi suất, dẫn đến Tòa bác yêu cầu và các tổ chức tín dụng này phải chịu án phí. Một số tổ chức tín dụng khi được chính người bảm đảm tài sản ủy quyền bán tài sản lại chần chừ, chậm thực hiện việc bán đấu giá tài sản dẫn đến thời gian thu hồi tài sản chậm, tiền thu không đủ đối với khoản nợ… Điều này cũng đặt ra vấn đề về năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng. Về phía Tòa án, một số thẩm phán cũng chưa thực sự phát huy hết năng lực, trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án, nghiên cứu văn bản pháp luật, vẫn còn tình trạng gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong việc thụ lý hồ sơ, xác định tư cách đương sự, việc ủy quyền của ngân hàng, VAMC đến việc chưa nắm vững kỹ năng giải quyết án dẫn đến kéo dài… Trong các vụ việc có nhiều tài sản thế chấp để đảm bảo chung cho một khoản vay nhưng bản án, quyết định của Tòa án tuyên không xác định rõ phạm vi nghĩa vụ bảo đảm của từng tài sản thế chấp dẫn đến vướng mắc khi tổ chức thi hành án và ủy thác thi hành án. Nội dung bản án, quyết định của Tòa án tuyên không mô tả, xem xét hiện trạng thực tế tài sản thế chấp nên hiện trạng tài sản trên thực tế không đúng nội dung nêu trong bản án, quyết định của Tòa hoặc Tòa không đưa người quản lý tài sản tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… dẫn đến quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự đề nghị Tòa án giải thích bản án hoặc gặp nhiều khó khăn trong xác minh mốc giới, diện tích, quyền sở hữu tài sản hoặc bị người quản lý tài sản khiếu nại, tố cáo gây chậm trễ, kéo dài thời gian tổ chức thi hành án. Thiếu dữ liệu, thông tin về tài sản Hiện nay, khi tiếp nhận đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời liên quan đến bất động sản chẳng hạn như cấm chuyển dịch quyền về tài sản, hoặc giải quyết các tranh chấp liên quan đến bất động sản, Tòa án thường phải phải kiểm tra tình trạng pháp lý của bất động sản đó như ai đang quản lý, sử dụng… thông qua việc thu thập chứng cứ từ Văn phòng đất đai thuộc sở tài nguyên môi trường cấp tỉnh. Việc xác minh này mất nhiều thời gian, không đáp ứng được thời gian giải quyết vụ việc. Tòa án cũng thiếu thông tin phối hợp trong vụ việc xuyên suốt từ cáctổ chức tín dụng, từ cơ quan thi hành án dân sự. 2. Những bất cấp của quy định pháp luật định thiếu thống nhất đối giữa biện pháp cầm cố và thế chấp Kế thừa quan điểm của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa ra khái niệm về biện pháp bảo đảm cầm cố và thế chấp. Theo đó, cầm cố tài sản là việc bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Thế chấp tài sản là bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhân thế chấp. Từ đó cho thấy, cầm cố và thế chấp chỉ khác nhau ở việc chuyển giao mang tính cơ học các tài sản bảo đảm mà không có sự phân biệt về loại tài sản. Vì thế, trong hoạt động cho vay thì việc cầm cố bất động sản là hoàn toàn có thể thực hiện. Tuy nhiên, các Luật chuyên ngành lại không quy định điều này. Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 quy định về các quyền sở hữu nhà ở thì không quy định quyền cầm cố nhà ở mà chỉ thấy quy định về quyền thế chấp nhà ở. Điều 167 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 quy định quyền của người sử dụng đất cũng không quy định người sử dụng đất có quyền cầm cố quyền sử dụng đất. Như vậy, quy định trong các văn bản Luật chuyên ngành đã hạn chế quyền cầm cố bất động sản của người sở hữu các quyền này. Với quy định này, tổ chức tín dụng có nguy cơ rủi ro rất lớn vì pháp luật thừa nhận giao dịch cầm giữ kể cả trong trường hợp tài sản đã được thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng và phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Mặt khác, đối với trường hợp bảo lưu quyền sở hữu, nếu nhà nước không có hệ thống thông tin công khai tình trạng pháp lý tài sản và yêu cầu bắt buộc phải đăng ký công khai về việc bảo lưu quyền sở hữu thì tổ chức tín dụng không hể kiểm soát được tài sản bảo đảm có bị bảo lưu quyền sở hữu hay không và phải chịu rủi ro từ việc hợp đồng thế chấp bị vô hiệu, dẫn đến mất tài sản bảo đảm. Quy định khác nhau giữa chuyển giao quyền sở hửu nhà ở giữa Luật nhà ở 2005 và Luật Nhà ở 2015 Khoản 5 Điều 93 Luật Nhà ở 2005 quy định “Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân hoặc đã giao nhận nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đối với giao dịch về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở hoặc từ thời điểm mở thừa kế trong trường hợp nhận thừa kế nhà ở”. Trong khi đó Điều 12 Luật Nhà ở 2015 quy định “Trường hợp mua bán nhà ở mà không thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều này và trường hợp thuê mua nhà ở thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua và đã nhận bàn giao nhà ở, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.” Như vậy, cùng một giao dịch mua bán nhà ở, nhưng nếu thực hiện ở thời điểm từ ngày 01/7/2006 đến trước thời điểm 01/7/1015 thời điểm có hiệu lực của Luật Nhà ở 2005 thì quyền sở hữu được chuyển cho bên mua, bên nhận cho… từ thời điểm công chứng; nếu thực hiện ở thời điểm từ ngày 01/7/2015 về sau thì Luật nhà ở 2015 quy định quyền sở hửu nhà được chuyển từ thời điểm thanh toán đủ tiền mua và nhận nhà. Quy định khác nhau cùng một vấn đề dẫn đến đường lối xét xử của Tòa án đối với tranh chấp quyền sở hửu tài sản sẽ khác nhau. Thiếu quy định pháp luật và chưa thống nhất đối với một số loại tài sản bảo đảm đặc biệt Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đều không quy định rõ ràng về việc sử dụng thế chấp hay cầm cố, trong đó có các quyền tài sản. Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về việc sử dụng quyền tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Điều 322. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bãi bỏ Điều luật này. Việc bãi bỏ quy định này gây khó khăn cho khách hàng sử dụng quyền tài sản quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp... để đảm bảo vay vốn. Đồng thời, việc thiếu quy định quyền tài sản được bảo đảm dưới hình thức cầm cố hay thế chấp cũng khiến cho cán bộ nhân viên ngân hàng khó khăn áp dụng trong thực tiễn. Bên cạnh đó, còn nhiều quy định chưa thống nhất tại các văn bản Luật trong việc cầm cố hay thế chấp tài sản như tài sản là tàu bay, tàu biển... Nghị định số163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định “thế chấp tàu bay, tàu biển”, không có quy định cầm cố tàu bay nhưng sang đến Nghị định số83/1010/NĐ-CP ngày 23/07/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch đảm bảo quy định “cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay”. 3. Một số đề xuất, kiến nghị Sửa đổi các quy định về cầm cố tài sản. Điều 10 của Luật Nhà ở năm 2014 cần được sửa đổi, theo hướng mở rộng cả quyền cầm cố nhà ở cho chủ sở hữu, đồng thời quy định chi tiết về cầm cố nhà ở. Tương tự, tại Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 cũng cần sửa đổi theo bằng việc cho phép các chủ thể có quyền sử dụng đất làm tài sản cầm cố. Cần xây dựng Luật đăng ký giao dịch bảo đảm thống nhất. Việc xây dựng và ban hành Luật đăng ký giao dịch đảm bảo là cần thiết nhằm đạt các mục tiêu sau Thống nhất pháp luật trong lĩnh vực đăng ký giao dịch đảm bảo; Hủy bỏ những quy định không còn phù hợp trong pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm; Bổ sung những quy định cần thiết, phù hợp với thực tiễn khách quan của đời sốngkinh tế, xã hội; Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hội nhập quốc tế. Tòa án nhân dân Tối Cao cần có văn bản bản hướng dẫn các tổ chức tín dụng lựa chọn việc khởi kiện về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm thay vì tranh chấp hợp đồng tín dụng để được áp dụng thủ tục rút gọn theo Điều 8 Nghị Quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội và Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án. Tòa án nhân dân Tối Cao cần hướng dẫn thống nhất những trường hợp nào đưa người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đặc biệt là những tranh chấp liên quan tòa nhà, căn hộ, chung cư… có nhiều cư dân sinh sống, đồng thời hướng dẫn thống nhất việc tống đạt cho pháp nhân, người đại diện pháp luật, các Công ty mua bán nợ khác… Về phía tổ chức tín dụng cần có quy định chặt chẽ trong quá trình thẩm định tài sản thế chấp. Lãnh đạo của các tổ chức tín dụng cần chỉ đạo các chi nhánh thực hiện chặt chẽ thủ tục, hồ sơ cho vay đảm bảo tính khả thi trên thực tế, phát huy vai trò đầu mối phối hợp trong công tác tổng hợp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc. Nâng cao năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm tham gia của cán bộ các giai đoạn tố tụng, giai đoạn Thi hành án dân sự. Đối với những hồ sơ cần ủy thác tư pháp, tổ chức tín dụng cần hỗ trợ Tòa án trong việc thu thập xác minh người liên quan. Về phía Tòa án Nâng cao tinh thần trách nhiệm của thẩm phán khi giải quyết vụ việc. Thường xuyên tập huấn văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết hợp đồng tín dụng, tài sản bảo đảm, các buổi tập huấn chuyên đề để nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm phán, thư ký tòa án, kịp thời giải đáp các khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết. Cần xây dựng Trung tâm dữ liệu thông tin về bất động sản trên toàn quốc để cho các tổ chức tín dụng, Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự thuận tiện tra cứu trong việc xử lý vụ việc. Trên đây là tham luận của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại tọa đàm “Thực trạng, giải pháp và các vấn đề pháp lý cần lưu ý liên quan đến hợp đồng tín dụng, xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm trong giai đoạn Khởi kiện và Thi hành án” được Hiệp hội Ngân hàng, Tòa Kinh tế - Tòa án Nhân dân TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức tháng 3/2021 Trong cuộc sống của chúng ta chắc chắn sẽ có lúc gặp phải nhiều vấn đề. Có những vấn đề chúng ta gặp phải sẽ mang đến rất nhiều phiền toái. Nhưng nếu như chúng ta biết cách giải quyết vấn đề thật khôn khéo thì mọi chuyện sẽ trở nên đơn giản hơn. Vậy thì vấn đề là gì? Hãy cùng chúng mình tham khảo nội dung bài viết dưới đây để biết các cách giải quyết vấn đề là gì nhé. Tóm tắt1 Vấn đề là gì? Vấn đề pháp lý là gì? Vấn đề nghiên cứu là gì? Vấn đề xã hội là gì? Vấn đề toàn cầu là gì? Cây vấn đề là gì? Nợ có vấn đề là gì?2 Các bước cụ thể để giải quyết vấn Xác định vấn Phân tích vấn Chọn lựa giải Đánh giá vấn đề3 Yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề?4 Lưu ý gì khi giải quyết vấn đề Vấn đề được hiểu đơn giản là điều mà chúng ta cần phải tìm hiểu và giải quyết. Khi vấn đề được kết hợp cùng nhiều từ thì nó lại được hiểu theo một nghĩa khác. Vậy để trả lời cho câu hỏi vấn đề là gì, chúng ta cần đặt nó vào từng trường hợp cụ thể. Xác định vấn đề chính là giải quyết vấn đề một cách khôn khéo và hợp lý nhất. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề có thể kể đến như Vấn đề là gì? Vấn đề pháp lý là gì? Pháp lý chính là sự lý luận, vận dụng các quy định pháp luật Nhà nước ban hành từ đó có thể đưa ra những lý lẽ theo pháp luật hoặc cũng có thể là những giá trị pháp lý bắt nguồn từ một sự việc, hiện tượng ở xã hội. Khi có sự xuất hiện của pháp luật, sẽ dẫn tới sự xuất hiện của pháp lý. Ngược lại không bao giờ có trường hợp sự xuất hiện của pháp lý mà dẫn tới sự xuất hiện của pháp luật. Thông thường, khi gặp những thứ cần phải nghiên cứu, tìm ra hướng giải quyết thì chúng ta sẽ gọi đó là vấn đề. Theo cách phân tích trên, vấn đề pháp lý chính là những câu hỏi trọng tâm cần được tranh luận hoặc cần được giải quyết theo pháp luật của vấn đề. Vấn đề nào mà không cần phải tiếp cận, giải quyết theo pháp luật thì không được gọi là vấn đề pháp lý. Để giải quyết được vấn đề pháp lý, chúng ta cần phải xác minh được nội dung pháp luật có liên quan thì mới có thể giải quyết được. Nếu không tìm được để có hướng đi khi giải quyết vấn đề pháp lý thì kể cả giải quyết được vấn đề, thì vấn đề đó cũng được coi là vấn đề pháp lý. Vấn đề nghiên cứu là gì? Vấn đề nghiên cứu là vấn đề mà nhà nghiên cứu đặt ra như là một bức xúc, một khó khăn hoặc một vấn nạn cần được giải quyết. Như vậy, để tìm được vấn đề nghiên cứu, chúng ta phải tự hỏi liệu có vấn đề gì gây ra sự bức xúc, lo ngại, quan ngại cho cá nhân hay cho mọi người, cho xã hội không. Thực trạng là gì? Khái niệm, vấn đề nóng của thực trạng hiện nay Thực hiện nghiên cứu Vấn đề xã hội là gì? Vấn đề xã hội chính là những tình huống nảy sinh trong đời sống xã hội mà cách thức hay những biện pháp giải quyết của con người, xã hội chưa đạt được kết quả mong muốn. Chẳng hạn như mại dâm, nghèo đói, thất nghiệp, ma túy… Vấn đề toàn cầu là gì? Thực tiễn chứng tỏ, sự phát triển và củng cố của các mối quan hệ cùng với sự phụ thuộc lẫn nhau của thế giới là điều tất yếu. Cộng đồng toàn nhân loại chứa đựng những vấn đề bên trong nó và những vấn đề đó được tích tụ, rõ nét dần và sâu sắc cùng với thời gian. Vấn đề toàn cầu chính là những vấn đề mà tác động của nó có liên quan trực tiếp đến vận mệnh của các dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị, biên giới quốc gia. Cây vấn đề là gì? Cây vấn đề là một mô hình đánh giá nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, nhằm tìm ra vấn đề cốt lõi và các ảnh hưởng mà vấn đề đó gây ra. Một cái cây vấn đề ta sẽ chia ra làm 3 phần như sau Thân, rễ, cành lá. Phần thân vấn đề cốt lõi. Phần rễ các nguyên nhân của vấn đề cốt lõi nguyên nhân từ gốc rễ. Phần cành lá các ảnh hưởng mà vấn đề cốt lõi nói trên gây ra. Hình minh họa cây vấn đề Nợ có vấn đề là gì? Nợ xấu hay còn gọi là nợ có vấn đề, là một trong những nỗi ám ảnh mà các ngân hàng, khách hàng và công ty tài chính hiện nay đang gặp phải. Nhiều người đi vay hiện nay rất là mơ hồ về vấn đề nợ xấu này thậm chí không biết khái niệm này như thế nào. Nói cụ thể và rõ ràng hơn, nợ xấu là nợ đến hạn trả cho bên vay mà người vay không trả và để trong thời gian dài cũng không trả dù là cố ý hay không cố ý. Các bước cụ thể để giải quyết vấn đề Khi gặp phải một vấn đề nào đó trong cuộc sống nếu chúng ta không bình tĩnh tìm ra cách giải quyết vấn đề thì chắc chắn sẽ cảm thấy khó khăn và bế tắc. Đối với những bạn biết kiềm chế lại cảm xúc, bình tĩnh nhìn nhận vấn đề thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Nội dung dưới đây sẽ giúp các bạn nhìn nhận rõ hơn về vấn đề và hướng giải quyết vấn đề là gì. Xác định vấn đề Để đưa ra được những cách giải quyết vấn đề tốt nhất thì đầu tiên bạn cần phải xác định rõ vấn đề. Vậy xác định vấn đề là gì? Đặt vấn đề là gì? Bất cứ vấn đề nào phát sinh cũng đều có nguyên nhân của nó. Chẳng hạn như khi các bạn thực hiện một dự án nào đó, trong quá trình thực hiện sẽ có rất nhiều vấn đề khó khăn phát sinh. Lúc này chúng ta phải thật bình tĩnh tìm ra được vấn đề, nhìn nhận lại quá trình, giải quyết từng khó khăn. Xác định vấn đề gặp phải là gì, gốc rễ từ đâu. Cái nào cảm thấy quan trọng hơn thì chúng ta ưu tiên giải quyết trước. Bước quan trọng nhất trong giải quyết vấn đề là xác định được nguồn gốc của vấn đề, xử lý được nguồn gốc thì mọi chuyện cũng coi như được giải quyết. Nó tương tự như việc chúng ta nhổ cỏ tận gốc. Khi đã xác định được nguồn gốc của vấn đề thì chúng ta sẽ lựa chọn được hướng giải quyết phù hợp. Những hướng giải quyết của vấn đề này không để gây ảnh hưởng đến vấn đề khác. Tư duy là gì? Đặc điểm, vai trò của tư duy Xác định vấn đề để bắt đầu giải quyết Phân tích vấn đề Một khi bạn đã tìm ra được gốc rễ của vấn đề thì bước tiếp theo là bạn hãy phân tích vấn đề đó. Có thể có rất nhiều vấn đề, nhưng chỉ có một nguyên nhân. Để tìm ra được nguyên nhân vấn đề bạn nên đặt ra những câu hỏi như Vấn đề khó khăn ở đâu? Vấn đề sai ở đâu? Thời gian để giải quyết vấn đề là bao lâu trước khi mọi chuyện trở nên rắc rối và nghiêm trọng hơn? Chúng ta đừng quá lo lo lắng mà làm phức tạp hóa, như vậy không những không giải quyết được vấn đề mà còn làm mọi chuyện rối tung và phức tạp hơn. Hãy thật thoải mái, chỉ cần tập trung phân tích vấn đề thì khả năng cao các bạn sẽ giải quyết được vấn đề Chọn lựa giải pháp Sau bước phân tích vấn đề thì tiếp theo chúng ta cần phải đưa ra kế hoạch và lựa chọn giải pháp tốt nhất cho vấn đề của mình. Hãy đưa ra các giải pháp rồi từ những lựa chọn đó bạn cần đưa ra một giải pháp tốt nhất để có thể giải quyết vấn đề Việc lựa chọn giải pháp thường khó khăn hơn nên các bạn cần vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm để trả lời những câu hỏi khách quan. Việc lựa chọn hướng giải quyết này ảnh hưởng rất lớn đến kết quả. Chính vì vậy mà chúng ta cần lựa chọn thật kỹ và chính xác giải pháp để giải quyết vấn đề. Thực hiện giải pháp Thực hiện giải pháp đã đưa ra Sau khi đã lựa chọn được giải pháp phù hợp, bước tiếp theo chúng ta cần thực hiện đó là bắt tay vào thực hiện giải pháp đó. Nếu bạn lựa chọn được hướng giải quyết vấn đề tốt mà không thử bắt tay vào làm thì cũng như không giải quyết được gì. Chính vì vậy mà bạn cần bắt tay vào giải quyết vấn đề Việc bắt tay vào thực hiện giải pháp sẽ giúp giải quyết được vấn đề, giám sát và theo dõi việc thực hiện giải pháp, khi bạn quan tâm đến nó thì bạn sẽ phát hiện ra được những sai sót để kịp thời khắc phục. Đánh giá vấn đề Bước cuối cùng trong quá trình giải quyết vấn đề này đó chính là đánh giá vấn đề. Bước này sẽ giúp các bạn đánh giá lại kết quả cũng như đánh giá lại toàn bộ vấn đề. Điều này sẽ giúp bạn đánh giá và nhìn nhận tổng thể. Vấn đề của mình đã được giải quyết hay chưa? Vấn đề còn tồn đọng những gì? Giải pháp bạn áp dụng đã mang đến hiệu quả ra sao? Điều quan trọng là bạn sẽ rút ra được những bài học và kinh nghiệm gì từ những lần giải quyết vấn đề đó. Trên đây là những bước cụ thể để giải quyết một vấn đề, đa số mọi người sẽ thực hiện việc giải quyết các vấn đề theo các bước trên, nhưng có những người mang lại một kết quả tốt, cũng có một vài trường hợp giải quyết vấn đề chỉ mang về kết quả không như mong muốn. Vậy nguyên nhân nào nào tạo nên sự khác biệt đó thì các bạn hãy cùng xem nội dung dưới đây nhé. Khách quan là gì? Chủ quan là gì? So sánh và ví dụ minh họa Yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề? Kỹ năng giải quyết vấn đề là một kỹ năng mềm được rất nhiều nhà tuyển dụng hiện nay đánh giá khá cao. Những ứng viên nào nắm trong tay những kỹ năng này sẽ có khả năng xử lý tình huống khó khăn và bất ngờ rất tốt, chúng gồm có – Kỹ năng nghiên cứu Đây là một kỹ năng khá quan trọng, giúp các bạn có thêm thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề. – Kỹ năng phân tích Trong các bước giải quyết vấn đề có một bước là tìm ra nguyên nhân của vấn đề. Để tìm ra được nguyên nhân của vấn đề đó các bạn cần phải phân tích các tình huống hay sự việc xảy ra từ đó mới có được những thông tin làm căn cứ đưa ra quyết định. Bạn phân tích sự vật sự việc càng cụ thể, chi tiết thì hướng giải quyết vấn đề của bạn càng trở nên đơn giản. – Kỹ năng giao tiếp Có rất nhiều người nghĩ kỹ năng giao tiếp thì không liên quan gì đến việc giải quyết vấn đề, nhưng nếu ai có suy nghĩ như vậy thì đó là một suy nghĩ sai lầm. Kỹ năng giao tiếp thật ra ảnh hưởng rất lớn đến việc giải quyết vấn đề. Khi bạn giao tiếp tốt bạn sẽ dễ dàng truyền đạt được những ý tưởng hay ho của mình. Từ đó mà đưa ra những ý kiến thuyết phục giúp cho mọi người tương tác với nhau dễ dàng hơn. Hơn nữa, khi giao tiếp tốt sẽ giúp các bạn hiểu rõ các thông tin cũng giúp cho thông tin truyền đạt dễ hơn, khả năng giải quyết vấn đề cũng tốt hơn. Lưu ý gì khi giải quyết vấn đề Với những chia sẻ ở trên thì chắc hẳn các bạn đã hiểu được thế nào là vấn đề, các bước giải quyết vấn đề cũng như những kỹ năng nào ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định về vấn đề. Dưới đây sẽ là những lưu ý dành cho các bạn giúp bạn có được những hướng giải quyết vấn đề khi đứng trước những vấn đề khó khăn. Lưu ý gì khi giải quyết vấn đề? Khi đứng trước một vấn đề khó khăn thì mỗi người lại có những cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề khác nhau. Có người sẽ lo lắng, vội vàng tìm cách giải quyết vấn đề chứ không suy nghĩ gì nhiều. Có người thì lại rất bình tĩnh nhìn nhận sự việc trước khi đưa ra phương hướng giải quyết. Đại đa số thì những người bình tĩnh nhìn nhận sẽ có cách giải quyết vấn đề khôn khéo hơn là những người vội vàng. Lưu ý tiếp theo dành cho các bạn là không nên quá lệ thuộc quá nhiều vào những cách giải quyết có sẵn. Vì đôi khi cách giải quyết vấn đề này áp dụng với người này thì đúng còn áp dụng với người kia thì nó lại không còn đúng nữa. Vậy nên hãy lựa chọn cách giải quyết phù hợp với vấn đề của bản thân hơn là cách giải quyết có sẵn. Kỹ năng giải quyết vấn đề có thể nói là một kỹ năng vô cùng quan trọng, giúp ích rất nhiều trong xử lý công việc hàng ngày. Vậy nên nhà tuyển dụng đánh giá rất cao những ứng viên nào nắm bắt được kỹ năng giải quyết vấn đề. Để biết được những ứng viên nào có kỹ năng này thì nhà tuyển dụng sẽ đặt ra những câu hỏi liên quan đến kỹ năng mềm, những câu hỏi trong tình huống để tìm ra những ứng viên có kỹ năng giải quyết tốt vấn đề. Cách tốt nhất để ghi điểm trong mắt các nhà tuyển dụng, có những kỹ năng giải quyết vấn đề tốt đó là phải học hỏi và tích lũy nhiều kiến thức để khi gặp phải những tình huống hay những vấn đề khó khăn thì sẽ đưa ra được hướng giải quyết ngay. Hy vọng với những thông tin chia sẻ trên thì các bạn đã hiểu rõ vấn đề là gì, trình tự giải quyết vấn đề là gì cùng những yếu tố ảnh hưởng cùng những lời khuyên khi gặp phải vấn đề đó. Chúc các bạn áp dụng thành công và hãy chia sẻ những trải nghiệm của mình bên dưới nhé. Tư duy là tính từ chỉ những hoạt động của con người đem lại cảm giác sáng tạo và thay đổi suy nghĩ và bản chất của vấn đề thông qua hoạt động vật chất, là quá trình nhận thức đúng đắn ở trình độ cao.. 1. Khái niệm tư duy là gì ?2. Khái niệm về vấn đề pháp lý 3. Câu hỏi pháp lý 4. Phân tích một ví dụ để hiểu rõ câu hỏi pháp lý 5. Câu hỏi pháp lý được sách vở của Mỹ định nghĩa 1. Khái niệm tư duy là gì ? Tư duy là tính từ chỉ những hoạt động của con người đem lại cảm giác sáng tạo và thay đổi suy nghĩ và bản chất của vấn đề thông qua hoạt động vật chất, là quá trình nhận thức đúng đắn ở trình độ cao. Tư duy pháp lý là gì ? Là cách suy nghĩ sâu chuỗi sự vật, sự việc của nhà làm luật để tìm ra giải pháp tối ưu nhất, cho một vụ viêc tranh chấp phù hợp và đúng theo quy định của pháp vụ tranh chấp có thể ở Tòa án hoặc xẩy ra ở bắt cứ nơi nào cần đưa ra pháp luật giải quyết để có sự công bằng. Ví dụMột vụ gây gổ đánh nhau thì cần phải xem xét bên nào là bên gây sự trước ? Mỗi một vụ tranh chấp thường có nhiều yếu tố xảy ra và thường sẽ có rất nhiều vấn đề pháp lý liên quan, nhà làm luật phải sáng suốt tìm ra vấn đề nào là quan trọng, vấn đề nào là mấu chốt chính trong sự kiện pháp trình sau chuỗi sự việc và đưa ra hướng giải quyết hợp lý được gọi là Tư duy pháp lý 2. Khái niệm về vấn đề pháp lý Khi bạn phải suy nghĩ về một việc gì đó thì nó là “một vấn đề” của bạn. Ví dụ… lấy chồng! Bạn sẽ phải suy nghĩ nhiều thứ. Đó là những điều khác nhau về mặt tình cảm. Ta gọi nó là vấn đề tình cảm. Về vấn đề này ít ai đi hỏi luật sư! Một doanh nhân cũng có vấn đề của họ. Ấy là làm sao để có lợi nhuận cao khi sản xuất một sản phẩm nào đó. Đấy là vấn đề kinh doanh. Người ta không bàn với luật sư về vấn đề ấy; vì nó là vấn đề thương mại. Là luật sư, khách hàng đưa đến cho bạn một vụ việc mà họ đã làm hay định làm để hỏi ý kiến của bạn. Vụ việc họ hỏi thì đối với luật sư là vấn đề pháp lý. Nó sẽ tạo ra nhiều câu hỏi liên quan đến luật, gọi là câu hỏi pháp lý. Ví dụ một phụ nữ đến kể với bạn là thường bị ông chồng đánh, ông ta vũ phu lắm; vậy phải đối xử với ông ta như thế nào? Ly hôn được không? Vụ việc đó là một vấn đề hay một câu hỏi pháp lý đối với bạn. Nó có ba yếu tố i Ông chồng hay đánh đập vợ; ii Bị đánh đập thì ly hôn được không hay đi thưa về tội hành hạ người khác nếu muốn con cái vẫn có cha? iii Suy nghĩ để chọn thưa tội nào; tức là áp dụng luật nào? Yếu tố i được gọi là sự kiện có thể gồm những lần khác nhau bà kia bị đánh. Yếu tố ii là luật pháp điều chỉnh luật hôn nhân gia đình hay luật hình sự. Yếu tố iii là sự chọn lựa luật điều chỉnh. Sự chọn lựa đó có thể trở thành tranh chấp khi bên đối phương là người chồng có ý kiến trái ngược. Nếu luật điều chỉnh không bị tranh chấp, hay áp dụng được thì yếu tố iii trở thành giải pháp hay chế tài phạt cải tạo, cho ly hôn. Vậy một câu hỏi hay một vấn đề pháp lý thường có ba yếu tố và nó thường là một cuộc tranh chấp giữa hai bên. Hai bên này khi chưa ra tòa thì là thủ phạm và nạn nhân; lúc ở tòa thì là nguyên đơn và bị đơn. 3. Câu hỏi pháp lý Người ta phân biệt luật lệ mà bạn đã học khi còn ở trường là luật pháp trên lý thuyết. Luật pháp mà luật sư phải xem xét hay sẽ đem đến hình phạt là luật pháp trong thực tế. Công việc của bạn nằm trong lĩnh vực sau và nó thường gắn với các sự kiện. Khi còn học luật, bạn biết một quy phạm pháp luật có ba phần giả định, quy định, và chế tài. Thường bạn nhớ nhiều hai phần sau. Thế nhưng khi luật được đưa vào thực tế thì người ta chú trọng nhiều vào phần giả định. Và nó có muôn màu muôn vẻ là các vụ việc đã xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Ta sẽ gọi nó là các vụ việc. Mỗi một khách hàng đến gặp bạn có một vụ việc khác nhau. Như vậy nghĩa là phần giả định trong một quy phạm pháp luật khi đi vào thực tế sẽ trở thành đa diện, đa sắc. Và chúng được gọi là thực tại, thực tế và sự kiện. “Thực tại là những gì có thực chứ không mộng tưởng1”; hoặc là tổng thể nói chung của những gì đang tồn tại xung quanh chúng ta theo nghĩa triết học, thí dụ, một gia đình hạnh phúc. Thực tế cũng là tổng thể nói chung “những gì đang tồn tại, đang diễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, về mặt có quan hệ đến đời sống con người2”, thí dụ, hai vợ chồng yêu nhau. Ở đây hai nghĩa này được dùng lẫn lộn với nhau, tùy ngữ cảnh. Sự kiện là một việc gì đó đã xảy ra, thí dụ, cành cây gãy rơi xuống đất. Câu hỏi pháp lý được đặt ra khi bạn tìm cách giải quyết một vụ tranh chấp hay một vấn đề pháp lý. Trở lại vụ bà nữ thân chủ nêu ở trên, ta có thể đặt ra câu hỏi pháp lý gồm 3 yếu tố như sau – Một vụ việc nhất định đã xảy ra hay sẽ xảy ra bà ấy thường bị chồng đánh. Vụ việc ấy gọi là một sự kiện, hay sự kiện pháp lý. – Một điều luật nhất định điều chỉnh sự kiện ấy Luật hôn nhân gia đình. Điều luật ấy khi được dẫn ra hay chiếu vào thì sẽ có hướng để giải đáp vấn đề của sự kiện. – Sự kết hợp giữa luật điều chỉnh với sự kiện đã tạo nên tranh cãi Bị bạo hành như thế có thể xin ly hôn được không? Hoặc bạn phải băn khoăn áp dụng như thế không biết đúng hay sai; hoặc có một chế tài phát sinh. 4. Phân tích một ví dụ để hiểu rõ câu hỏi pháp lý Một ví dụ khác để làm rõ câu hỏi pháp lý Một nhân viên đi giao hàng của công ty mình cho một cửa hàng bán lẻ. Trên đường đi người này ghé vào một tiệm sách và bị thương vì xe đụng trên đường từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ. Vậy có thể áp dụng luật lao động không và nạn nhân có được coi là bị tai nạn lao động không? Ta phân tích 3 yếu tố nằm trong câu hỏi pháp lý a. i Nhân viên đi giao hàng công ty cho một cửa hàng bán lẻ; ii trên đường ghé tiệm sách; và iii bị thương vì xe đụng trên đường từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ là các sự kiện pháp lý. b. Có thể dựa trên luật lao động không? là luật điều chỉnh hay luật áp dụng. c. Nạn nhân có được coi là bị tai nạn lao động không? là câu hỏi pháp lý. Trong vụ này ta thấy có ba sự kiện. Trong đó sự kiện quan trọng nhất là “bị thương vì đụng xe khi đi từ tiệm sách đến cửa hàng bán lẻ”. Sở dĩ ta nói được như thế vì mình đã suy nghĩ, đã phân tích và so sánh với các sự kiện khác. Sự kiện quan trọng nhất kia được gọi sự kiện mấu chốt SKMC. Hai sự kiện còn lại là sự kiện phụ thuộc. Trong TDPL người ta xem xét các sự kiện khác nhau trong nội vụ để tìm ra SKMC. Từ SKMC người ta sẽ đặt được câu hỏi pháp lý. Và nó sẽ là câu hỏi mấu chốt CHMC. 5. Câu hỏi pháp lý được sách vở của Mỹ định nghĩa Để so sánh, câu hỏi pháp lý được sách vở của Mỹ định nghĩa là “… Một điểm riêng rẽ, chắc chắn và quan trọng; nó là một vấn đề mà bên này xác định, nhưng bên kia phủ nhận. Khi một sự kiện được một bên nêu trong đơn khởi kiện nhưng bị bên kia bác bỏ trong bản ý kiến phúc đáp thì sự kiện đó trở thành một câu hỏi giữa hai bên”. Câu hỏi có hai thứ về pháp lý “issue of law” và về sự kiện “issue of fact”. Bạn thấy định nghĩa này chú trọng vào yếu tố iii ta nêu ở trên. Khi học ở Mỹ, đọc câu định nghĩa này rồi mà tôi vẫn còn “bơi ná thở” vì chưa biết hết các yếu tố của CHPL. Vì thế ở cuối Phần này tôi dành một chương riêng đưa ra các vụ án để các bạn nắm CHPL cho chắc. Vì TDPL trình bày ở đây được du nhập từ Mỹ và được cải biến ít nhiều cho phù hợp với hoàn cảnh của ta nên tôi nêu ở đây các khái niệm và từ ngữ tương đương ở Mỹ có liên quan đến các điều ta học. “Câu hỏi pháp lý” thì người Mỹ nói là “legal issue”. Từ ngữ “câu hỏi” không thôi là “issue” hay “question”. Từ “issue” hay được sử dụng trong một vụ tranh chấp và dùng ở tòa; còn “question” hay dùng trong văn bản hoặc nói chuyện. “Đi tìm câu hỏi pháp lý” thì tiếng Anh là “spotting the isue” hay “pick up the issue”. “Câu hỏi mấu chốt” là “key issue”. Ở Mỹ hay Anh, việc chánh án làm khi soạn bản án được gọi là “legal reasoning” tư duy pháp lý. Luật sư tham dự một phần lớn trong đó đưa giải pháp và đề nghị biện pháp nên việc luật sư làm được gọi là “thinking like a lawyer” hay “lawyering skill” suy nghĩ kiểu của luật sư, tài ba của luật sư. Luật sư và sinh viên luật ở Mỹ thường chỉ nói đơn giản là “legal issue” câu hỏi pháp lý hay “key issue” câu hỏi mấu chốt. Tuy nhiên, họ lại có các khái niệm pháp lý rất chi tiết vì thừa hưởng văn hóa của người Anh. Mà ở Anh, vào những thập kỷ lập quốc đầu tiên, khi ra tòa hai bên không có luật nào để chiếu vào1; họ đã phải cãi nhau để tìm chân lý; khi cãi muốn thắng thì phải phân tích, tách biệt sự kiện ra càng nhiều càng tốt. Khi du nhập những từ ngữ hoặc khái niệm trên vào sách này, tôi chia “câu hỏi pháp lý” legal issue thành nhiều loại để chúng ta dễ luận giải cho nhau sau này. Vậy câu hỏi pháp lý ở sách này được chia thành – Câu hỏi pháp lý kết luận CHKL; – Câu hỏi pháp lý mấu chốt key issue – CHMC; – Câu hỏi pháp lý phụ thuộc CHPT. Để cho gọn, tôi bỏ cụm từ “pháp lý” đi, do vậy quy ước viết tắt như trên. Cách tìm tòi các câu hỏi trên chính là TDPL sẽ được trình bày trong “Cách tư duy pháp lý” Để có thể đi sâu hơn, chúng ta cần hiểu các từ ngữ giống nhau; tôi lấy thêm thí dụ sau để làm việc đó. Bạn lái xe đụng vào người khác. Trong việc này có ít ra bốn chi tiết, mà ta sẽ gọi là sự kiện bạn, cái xe, cách đi, và nạn nhân. Về bạn, bạn có bằng lái không và có đi đúng luật không. Đó là hai sự kiện. Nếu bạn có bằng lái thì việc đi đúng luật hay không cách đi là sự kiện quan trọng và được gọi là SKMC, các sự kiện khác là sự kiện phụ thuộc SKPT. Về chiếc xe, cũng có vài sự kiện, có giấy đăng ký không, thắng có tốt không, vận tốc bao nhiêu… Tùy theo việc cãi nhau là về điểm nào mà điểm đó trở thành SKMC, những cái còn lại là sự kiện phụ thuộc. Sự kiện mấu chốt tạo nên CHMC; sự kiện phụ thuộc tạo nên CHPT. Gọi như thế là để phân biệt thôi chứ mỗi cái có thể bị hoán đổi cho nhau khi ta suy nghĩ. Đụng xe vào người khác mà bạn có phải đền hay không thì câu hỏi đó được gọi là câu hỏi kết luận CHKL. Từ CHKL ta mới đi tìm SKMC và CHMC. Tất cả các cụm từ được in nghiêng là những cụm từ sẽ được dùng nhiều khi TDPL và chúng ta cần thống nhất cách hiểu. Vấn đề pháp lý là gì Vấn đề pháp lý hay còn được gọi là câu hỏi pháp lý tức là các vấn đề trọng tâm cần tranh luận hoặc cần giải quyết theo hình thức pháp luật của một vấn đề. … Tuy nhiên lại có những vấn đề pháp lý cần có thời gian thu thập điều tra, tổng hợp bằng chứng thì mọi việc mới được giải quyết. Cụ thể là vấn đề pháp lý của vụ án. Xác định vấn đề pháp lý Sẽ có 3 yếu tố của vấn đề pháp lýSự kiện pháp lý mấu chốt Giản lược tối đa các tình tiết phụ -> Nổi bật lên sự kiện chính Trong nhiều sự kiện chính có 1 sự kiện mấu chốt – có tác động quan trọng nhất đến toàn bộ vụ việc Sự kiện mấu chốt có thể đã xảy ra hoặc chưa xảy ra trường hợp nhờ tư vấn Câu hỏi pháp lý mấu chốt Là câu hỏi người hành nghề luật TỰ HỎI BẢN THÂN hoặc TRANH LUẬN VỚI NHAU Là câu hỏi mang tính định hướng để làm sáng tỏ vấn đề Từ câu hỏi mấu chốt à đặt ra hàng loạt câu hỏi cần thiết với người cung cấp thông tin để làm rõ các tình tiết, các dấu hiệu trong vụ việc Luật điều chỉnh Từ câu hỏi pháp lý mấu chốt -> các văn bản pháp luật và tiền lệ có liên quan. nêu

vấn đề pháp lý